CHUYỆN NHẶT Ở LÀNG

CHUYỆN NHẶT Ở LÀNG

Tác giả: Hà Nguyên Huyến


Những vị khách phương Tây đầu tiên đến làng Đường Lâm

Khoảng những năm 1980 đến 1990, thỉnh thoảng có những người Phương Tây đến làng Đường Lâm.
Mật độ dày lên vào những năm cuối cùng của thế kỷ trước, đa số họ là học giả, nhà nghiên cứu văn hoá.

Thế rồi, có một bà người Pháp với ông chồng người Việt quê gốc ở Quảng Ngãi (gia đình chồng bà Tây này sang Pháp từ những năm bốn mươi của thế kỷ trước) công bố kết quả nghiên cứu của mình về làng Đường Lâm.
Nghe nói đây là luận văn tiến sĩ của họ sau gần mười năm “bà cùng” với dân làng.


Công trình nghiên cứu về làng Mông Phụ

Năm 2003, Nhà xuất bản Dân tộc đóng gộp một số bài viết của các giáo sư, tiến sĩ Việt Nam như: Kiều Thu Hoạch, Diệp Đình Hoa… về làng Đường Lâm (khái niệm “Làng Đường Lâm” được dùng để chỉ một cộng đồng dân cư cổ, trong tiến trình phát triển lịch sử đến nay là đơn vị hành chính cấp xã), cùng với luận văn tiến sĩ của hai vợ chồng người Pháp, thành một cuốn sách có tiêu đề:

“Làng Mông Phụ – Một làng ở đồng bằng sông Hồng”

(Làng Mông Phụmột trong 09 làng họp nên xã Đường Lâm).

Những nghiên cứu đóng góp của các học giả Phương Tây đã giúp Bộ Văn hoá Thông tin công nhận Làng Đường Lâm là một làng cổ – Một di sản kiến trúc nghệ thuật.


Làng cổ và những vị khách nước ngoài

Sau khi được công nhận, các công ty du lịch đổ về Đường Lâm khảo sát, thiết kế tour cho khách nước ngoài.
Dân làng không ngờ ngôi làng hẻo lánh, nghèo khó nằm trên đỉnh hữu ngạn tam giác châu thổ sông Hồng lại trở nên rộn ràng đến thế.

Ngày nào cũng có người nước ngoài (chủ yếu từ các nước tư bản Tây Phương) cầm máy ảnh đi khắp làng — chụp, quan sát, trò chuyện.
Thái độ họ rất trân trọng, chứ không hề khinh miệt sự nghèo khó của vùng quê.

Biết bao câu chuyện xảy ra, để lại cho khách và dân làng những điều ngỡ ngàng, thú vị.
Gia đình tôi còn giữ được một ngôi nhà cổ gần hai trăm năm tuổi, nguyên vẹn từ khi xây dựng.
Khách Tây đến rất nhiều — ăn trưa do gia đình tôi nấu và cùng chúng tôi trò chuyện.


Những cuộc trò chuyện đặc biệt

Đưa khách đi là các “tour guide”, nhưng họ thường dặn không được nói chuyện chính trị.
Chúng tôi lúc đầu tự ái, vì nghĩ mình là người làng văn hoá, có nói gì thì cũng phải văn hoá chứ.

Năm 2006, có hai người Anh và một người Mỹ đến nhà tôi.
Họ nói đã đi nhiều vùng nông thôn Việt Nam, nhưng đa số không còn giữ được dáng dấp cổ xưa như trong sách.
Họ khen làng tôi đẹp và tương đối nguyên vẹn.
Tôi bảo: dân làng ít phá làng vì sợ Thần, Thánh trừng phạt.
Họ gật gù: “Dân làng này vẫn còn một cái ngưỡng ở trong lòng mình!”


Cuộc đổ bộ của Mỹ – ký ức còn lại

Họ nhắc đến cuộc đổ bộ Sơn Tây năm 1971, và tôi kể cho họ nghe những ký ức của mình –
một đứa trẻ học lớp Một bị ho gà, được cha cho về Trường Chính trị tỉnh Sơn Tây – gần nơi giam giữ phi công Mỹ.

Tôi thường chơi bên hàng rào thép gai phủ kín hoa bìm bìm tím ngắt.
Từ sau đêm 21 tháng 11 năm 1971, tôi luôn hình dung ra những người lính Mỹ súng trong tay, mũ sắt, áo rằn ri…
Chiến tranh đã đến làng tôi gần lắm rồi.

Chúng tôi và những người khách nước ngoài đứng lặng trước hoang tàn:
Những ngôi nhà đổ nát, tường rêu phong, cỏ mọc xanh ngợp.
Tôi hái một bông bìm bìm đưa cho người Mỹ.
Ông ta nói đó là hoa dại, tôi bảo:

“Không, đó là hoa của tuổi thơ – của tất cả trẻ con làng quê trên đất nước này!”


Những câu hỏi từ người Pháp, người Ca-na-đa, người Mỹ

Một đoàn khách Pháp hỏi về tấm ảnh cha tôi, hỏi về huy hiệu 50 tuổi Đảng, hỏi ông có tham gia chiến tranh không.
Tôi kể:

“Cha tôi từng là công chức thời Pháp, sau theo Việt Minh, đánh Pháp ở Điện Biên Phủ, rồi trở thành công chức của chính quyền thị xã.”

Người Pháp trầm ngâm nói:

“Bố ông là người hạnh phúc. Chúng tôi – thế hệ sau – sẽ không còn được hạnh phúc như ông ấy.”

Một bà Ca-na-đa hỏi sao trong nhà nhiều sách thế.
Tôi bảo: “Sách của nhiều thế hệ dồn lại. Con tôi là đời thứ mười trong ngôi nhà này.”
Bà ta ngạc nhiên khi biết con tôi đọc được cả “Chúa tể của những chiếc nhẫn” bằng tiếng Anh.

Một người Mỹ hỏi về tự do ngôn luận. Tôi kể về một người thân – từng là thanh niên xung phong, nhưng do bất công xã hội và bệnh tật tinh thần, đã rẽ sang một hướng khác.
Câu chuyện dài, buồn và thật. Tôi nói:

“Điều nhân dân Việt Nam cần là một đời sống ổn định và công bằng. Nếu có nói thì cũng phải nói trên tinh thần ấy.”


Một tình yêu giản dị và sâu sắc với làng quê

Tôi nói với chú phiên dịch:

“Chú hãy dịch nguyên văn và tử tế câu này:
Tôi yêu ngôi làng của mình như yêu một người mẹ – ngay cả khi đau đớn ê chề nhất!

Khách gật đầu.
Họ bảo:

“Chúng tôi không thể hiểu nổi tại sao, với phương tiện hiện đại như thế, chúng tôi lại thua.
Nhưng đến đây, chúng tôi hiểu rồi – chúng tôi thua những ngôi làng.
Vì ở đây, mọi người dân đều là lính.


Chiếc tương và nét văn hoá Việt

Tôi không còn nghĩ người nước ngoài đến để nhìn sự cổ hủ, lạc hậu.
Tôi làm tương gần hai mươi lăm năm, và chưa bao giờ coi khách là thượng đế.

“Nếu cho các ngài ăn tương cũng ví như cho chúng tôi ăn pho-mát thối vậy.
Nhưng suy cho cùng, cả hai đều là sản phẩm tự nhiên, không hoá chất –
một nét văn hoá ẩm thực riêng.”

Không ngờ, rất nhiều người nước ngoài thích ăn tương, dùng nó như nước sốt trộn nộm.
Họ ăn ngon lành và bảo:

“Chúng tôi đã tìm thấy một điều gì đó trong ngôi làng cổ này.”

Tôi cười và nói:

“Có lẽ với các ngài, đây là một chương trình Discovery – một cuộc khám phá về Việt Nam.”


Nhà Gỗ PHONG KIẾN – Bản Sắc Ngôi Nhà Việt.